Học thuyết về nền kinh tế hỗn hợp (P11)

AE là số công nhân co' việc làm với mức lương w EF là số công nhân muốn đi làm nhưng du hoc nhat ban với mức lương cao hơn w. Do vậy, đo' là lượng thất nghiệp. Nếu mức lương thay đổi linh hoạt, sẽ không còn thất nghiệp nữa. Thất nghiệp không .tự nguyện-: là tỉnh trạng với mức lương cứng nhắc, không thay đổi, một quỹ lương nhất định chỉ thuê một số lượng công nhân nhất định, số còn lại muốn đi làm với mức lương đó nhưng không tìm được việc làm. Ồ mức lương W’, số dịch vụ kế toán thuế công nhân muốn đi làm nằm ở G, song các doanh nghiệp chỉ thuê ở H, do.vậy, HG là thất nghiệp không tự nguyện. So với giá cả hàng hóa thông thường, thì tiền lương co' tính cứng nhắc, nó chi thay đổi sau 1 đến 3 năm sau khi có hợp đồng lao động. Nguyên nhân là: các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp không có tổ chức công đoàn định ra thang xuat khau lao dong nhat ban lương rồi thuê công nhân hạn chế theo mức lương đó.

Thang lương có khuynh hướng giữ nguyên trong một năm

Trong các ngành công nghiệp co' tổ chức công đoàn, các thang lương được định ra bằng những hợp đồng nhiều năm. Công nhân tham gia công đoàn không muốn cát lương, thậm chí trong trường hợp 1/3 công đoàn viên bị thất nghiệp. Nguồn gốc cơ bản của việc giữ nguyên mức lương là vì định ra thang lương hay thương lượng lại thang lương là rất tốn kém. – Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kì. Thất nghiệp tạm thời phát sinh do sự di chuyển không ngừng con người giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Do sự di chuyển mà một số người tự nguyện thất nghiệp. Thất nghiệp cơ cấu xảy ra do sự mất cân đối giữa cung và cầu đối với công nhân. Ví dụ, mức cầu về loại lao động này tăng lên còn loại lao động khác thì giảm đi. Trong trường hợp đo', thay đổi cung điều chỉnh không kịp, gây ra thất nghiệp.

Thất nghiệp chu kì phát sinh ra khi mức cầu chung về lao động thấp. Nó gắn với giai đoạn suy thoái và đo'ng của chu kì kinh doanh. TỈ lệ thát nghiệp tự nhiên: Một trong những khái niệm then chốt của kinh tế vĩ mô hiện đại là tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên. Tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên là mức mà ở đo' các thị trường lao động khác biệt ở trạng thái cân bằng ở một số thị trường thì cầu quá mức (hoặc nhiều việc không co' người làm) trong khi đó ở những thị trường khác thì cung quá mức (hay thất nghiệp). Gộp lại, tất cả các nhân tố hoạt động để sức ép đối với tiền lương và giá cả trên tất cả các thị trường đều cân bằng. Tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên luôn phải lớn hơn số 0. Vi trong một nước rộng lớn, mức độ cơ động cao, thị hiếu và tài năng đa dạng, mức cung cầu về số loại hàng hóa, dịch vụ thường xuyên thay đổi, tất yếu có thất nghiệp tạm thời và cơ cấu.

Ti lệ thất nghiệp tự nhiên liên quan chặt chẽ với lạm phát. Dó là tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất mà đất nước có thể chấp nhận được ở mức trung bình mà không co' nguy cơ gây lạm phát tăng xoáy ốc. Tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên co' xu hướng ngày càng tăng. Nguyên nhân của sự gia tăng là tăng thêm số thanh thiếu niên, người thiểu số, phụ nữ vào Lực lượng lao động; tác động của chính sách (như trợ cấp bảo hiểm) làm cho công nhân thất nghiệp không tích cực tìm việc làm; do thay đổi cơ cấu sản xuất… Để giảm tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên, cần cải thiện dịch vụ thị trưồng lao động, mở các lớp đào tạo, loại bỏ những trở ngại về chính sách của chính phủ; tạo ra việc làm cỡng cộng.